Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Thơ Hainơ - 301 bài - Phần 11



237.VẾT THƯƠNG HẠNH PHÚC

Khi có em trong tay!
Một niềm vui hạnh phúc
Trong lòng tôi tràn ngập
Những mơ ước diệu kỳ.

Khi có em trong tay!
Tôi hôn lên mái tóc
Mái tóc vàng tuyệt đẹp
Buông xõa trên vai này.

Khi có em trong tay!
Tôi tin rằng hiện thực
Cõi thiên đường hạnh phúc
Ngay trên mặt đất này.

Nhưng như Thánh ngờ vực!
Tôi còn nghi điều này
Khi chưa đặt ngón tay
Vào vết thương hạnh phúc.
____________
*Thánh ngờ vực (Thomas) – tức Thánh Tô-ma tông đồ hay còn gọi là Tô-ma đa nghi hoặc Đi-đi-mô (Didymos). Là một trong 12 tông đồ của Giêsu, Ngài không tin bất cứ điều gì khi không chỉ nhìn tận mặt mà còn phải sờ tận tay (Giăng, 20: 25-28).

Der Ungläubige

Du wirst in meinen Armen ruhn!
Von Wonnen sonder Schranken
Erbebt und schwillt mein ganzes Herz
Bei diesem Zaubergedanken.

Du wirst in meinen Armen ruhn!
Ich spiele mit den schönen
Goldlocken! Dein holdes Köpfchen wird
An meine Schultern lehnen.

Du wirst in meinen Armen ruhn!
Der Traum will Wahrheit werden,
Ich soll des Himmels höchste Lust
Hier schon genießen auf Erden.

O, heil’ger Thomas! Ich glaub’ es kaum!
Ich zweifle bis zur Stunde,
Wo ich den Finger legen kann
In meines Glückes Wunde.


238.HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH

Phụ nữ như bọ chét
Nhiều bọ chét – ngứa nhiều
Âm thầm chịu đớn đau
Chẳng còn cách nào khác.

Họ trả thù tinh khôn
Thức giấc trong đêm vắng
Bạn ôm nàng âu yếm
Nàng với bạn – quay lưng.

Zum Hausfrieden

Viele Weiber, viele Flöhe,
Viele Flöhe, vieles Jucken –
Thun sie heimlich dir ein Wehe,
Darfst du dennoch dich nicht mucken.

Denn sie rächen, schelmisch lächelnd,
Sich zur Nachtzeit – Willst du drücken
Sie an’s Herze, lieberöchelnd,
Ach, da dreh’n sie dir den Rücken.


239.BIẾT VỀ ĐÂU LÚC NÀY?

Biết về đâu lúc này
Hay lại về nước Đức?
Nhưng lý trí dứt khoát
Thầm thì bên tai tôi:

“Dù chiến tranh không còn
Tòa án binh còn đó
Biết bao người bị xử
Ít nhiều có liên quan”.

Điều này thật khó chịu
Xử bắn hoặc bắt giam
Tôi chẳng phải anh hùng
Cũng không làm gì xấu.

Tôi muốn sang nước Anh
Nhưng có điều ở đó
Là mùi hương của họ
Sẽ làm tôi buồn nôn.

Hay sẽ vượt đại dương
Đi thuyền sang nước Mỹ
Ai chẳng mong xứ sở
Tự do và giàu sang.

Có điều tôi ngại ngùng
Là người nhai thuốc lá
Và mọi nơi có thể
Nhổ nước bọt ra đường.

Nước Nga cũng dễ thương
Có thể là an ủi
Nhưng tôi không chịu nổi
Roi quất của mùa đông.

Tôi nhìn vào trời đêm
Giữa sao trời vô khối
Nhưng tôi không tìm thấy
Ngôi sao của riêng mình.

Giống như một mê cung
Của sao trời vô số
Giữa cuộc đời trần thế
Tôi đánh mất con đường.

Jetzt wohin?

Jetzt wohin? Der dumme Fuß
Will mich gern nach Deutschland tragen;
Doch es schüttelt klug das Haupt
Mein Verstand und scheint zu sagen:

Zwar beendigt ist der Krieg,
Doch die Kriegsgerichte blieben,
Und es heißt, du habest einst
Viel Erschießliches geschrieben.

Das ist wahr, unangenehm
Wär’ mir das Erschossen-werden;
Bin kein Held, es fehlen mir
Die pathetischen Geberden.

Gern würd’ ich nach England geh’n,
Wären dort nicht Kohlendämpfe
Und Engländer – schon ihr Duft
Giebt Erbrechen mir und Krämpfe.

Manchmal kommt mir in den Sinn
Nach Amerika zu segeln,
Nach dem großen Freiheitstall,
Der bewohnt von Gleichheits-Flegeln –

Doch es ängstet mich ein Land,
Wo die Menschen Tabak käuen,
Wo sie ohne König kegeln,
Wo sie ohne Spuknapf speien.

Rußland, dieses schöne Reich,
Würde mir vielleicht behagen,
Doch im Winter könnte ich
Dort die Knute nicht ertragen.

Traurig schau ich in die Höh’,
Wo viel tausend Sterne nicken –
Aber meinen eignen Stern
Kann ich nirgends dort erblicken.

Hat im güldnen Labyrinth
Sich vielleicht verirrt am Himmel,
Wie ich selber mich verirrt
In dem irdischen Getümmel. –


240.MỘT KHÚC CA XƯA

Em đã chết rồi, em có biết không
Ánh lửa bừng không còn trong đôi mắt
Trên đôi môi hồng giờ đây tái nhợt
Em chết rồi, em đã chết rồi em.

Trong đêm mùa hè đáng sợ mình anh
Anh tự tay mình mang em ra mộ
Chim sơn ca đã hót lên buồn bã
Những ngôi sao nức nở giữa trời đêm.

Anh đưa em đi qua một khu rừng
Có những lời nguyện cầu trong đêm vắng
Những cây thông mặc áo choàng đen đứng
Đọc những lời cầu nguyện nhớ về em.

Khi đến gần hồ nước, một đám đông
Những tiên nữ kết vòng tròn nhảy múa
Bỗng dừng lại, vẻ mặt buồn khôn tả
Và lâm ly thống thiết để chia buồn.

Còn khi bên hố huyệt để chôn em
Mặt trăng cũng từ trời cao ghé xuống
Trăng bày tỏ… thổn thức và cầu nguyện
Từ xa xa vọng lại tiếng đồng chung.

Altes Lied

Du bist gestorben und weißt es nicht,
Erloschen ist dein Augenlicht,
Erblichen ist dein rothes Mündchen,
Und du bist todt, mein todtes Kindchen.

In einer schaurigen Sommernacht
Hab’ ich dich selber zu Grabe gebracht;
Klaglieder die Nachtigallen sangen,
Die Sterne sind mit zur Leiche gegangen.

Der Zug, der zog den Wald vorbei,
Dort wiederhallt die Litaney;
Die Tannen, in Trauermänteln vermummet,
Sie haben Todtengebete gebrummet.

Am Weidensee vorüber ging’s,
Die Elfen tanzten inmitten des Ring’s;
Sie blieben plötzlich stehn und schienen
Uns anzuschaun mit Beileidsmienen.

Und als wir kamen zu deinem Grab,
Da stieg der Mond vom Himmel herab.
Er hielt eine Rede. Ein Schluchzen und Stöhnen,
Und in der Ferne die Glocken tönen.


241.VẬT BẢO ĐẢM

Tình yêu bảo vị thần
Rằng cần vật bảo đảm
Trước khi dâng hiến tình
Bởi đời này khó lắm.

Vị thần kia mỉm cười
“Mọi thứ đều thay đổi
Em là người cho vay
Đưa người ta vào bẫy.

Ta có cây đàn lia
Mà đàn bằng vàng thật
Đem đổi sẽ có được
Bao nhiêu nụ hôn kia?”

Solidität

Liebe sprach zum Gott der Lieder,
Sie verlange Sicherheiten
Ehe sie sich ganz ergebe,
Denn es wären schlechte Zeiten.

Lachend gab der Gott zur Antwort:
Ja, die Zeiten sich verändern,
Und du sprichst jetzt, wie ein alter
Wuchrer, welcher leiht auf Pfändern.

Ach, ich hab’ nur eine Leier,
Doch sie ist von gutem Golde.
Wie viel Küsse willst du borgen
Mir darauf, o meine Holde?


242.DÒNG ĐỜI

Nếu bạn có rất nhiều
Trời còn cho nhiều nữa.
Nếu có rất ít ỏi
Cái cuối cũng đi tiêu.

Nếu quả bạn rất nghèo
Thì chúng tôi chôn bạn
Đời này chỉ đáng sống
Người có gì đấy thôi.

Weltlauf

Hat man viel, so wird man bald
Noch viel mehr dazu bekommen.
Wer nur wenig hat, dem wird
Auch das Wenige genommen.

Wenn du aber gar nichts hast,
Ach, so lasse dich begraben –
Denn ein Recht zum Leben, Lump,
Haben nur die etwas haben.


243.LỜI BÁO TRƯỚC

Hỡi linh hồn bất tử, hãy dè chừng
Để tránh cho ngươi những phiền muộn nhé
Khi ngươi từ giã cuộc đời trần thế
Sẽ theo đường vào cái chết, bóng đêm.

Khi ngươi bay lên đến trước cổng vàng
Ở đó có những đạo binh thiên quốc
Người ta chỉ hỏi ngươi về công việc
Chứ không cần chức tước hoặc danh xưng.

Đôi giày của ngươi còn dính bụi trần
Hãy bỏ lại ở phía ngoài cánh cổng
Rồi đi vào miền tự do, tĩnh lặng
Giày dép mềm và tiếng nhạc du dương.

Fromme Warnung

Unsterbliche Seele, nimm dich in Acht,
Daß du nicht Schaden leidest,
Wenn du aus dem Irdischen scheidest;
Es geht der Weg durch Tod und Nacht.

Am goldnen Thore der Hauptstadt des Lichts,
Da stehen die Gottes-Soldaten;
Sie fragen nach Werken und Thaten,
Nach Namen und Amt fragt man hier nichts.

Am Eingang läßt der Pilger zurück
Die stäubigen, drückenden Schuhe –
Kehr’ ein, hier findest du Ruhe,
Und weiche Pantoffeln und schöne Musik.


244.NGƯỜI SẮP CHẾT

Khi ta chết sẽ nằm trong đất bụi
Dưới mộ phần, tôi thấy sợ biết bao
Bởi vì dù có được hồi sinh lại
Tôi phải nằm chờ ở đó rất lâu.

Một khi ánh sáng đời chưa tắt hẳn
Khi con tim vẫn còn đập rộn ràng
Tôi chỉ mong giá như được một lần
Vị ngọt ngào của tình yêu lại nếm.

Một cô tóc vàng dịu dàng âu yếm
Và ánh nhìn tĩnh lặng tựa ánh trăng
Sắp chết rồi, có lẽ đã không cần
Cô tóc đen như mặt trời nóng bỏng.

Ai còn trẻ trung tràn trề sức sống
Thì người này cần đến sự đam mê
Cần sự cuồng điên, đập phá, chửi thề
Cần hai người yêu nhau như tra tấn.

Tôi không còn trẻ, không còn khỏe mạnh
Không cần yêu say đắm như ngày nào
Tôi chỉ muốn yêu một cách tĩnh lặng
Muốn hạnh phúc không một chút ồn ào.

Der Abgekühlte

Und ist man todt, so muß man lang
Im Grabe liegen; ich bin bang,
Ja, ich bin bang, das Auferstehen
Wird nicht so schnell von Statten gehen.

Noch einmal, eh’ mein Lebenslicht
Erlöschet, eh’ mein Herze bricht –
Noch einmal möcht’ ich vor dem Sterben
Um Frauenhuld beseligt werben.

Und eine Blonde müßt’ es sein,
Mit Augen sanft wie Mondenschein –
Denn schlecht bekommen mir am Ende
Die wild brünetten Sonnenbrände.

Das junge Volk voll Lebenskraft
Will den Tumult der Leidenschaft,
Das ist ein Rasen, Schwören, Poltern
Und wechselseit’ges Seelenfoltern!

Unjung und nicht mehr ganz gesund,
Wie ich es bin zu dieser Stund,
Mögt’ ich noch einmal lieben, schwärmen
Und glücklich sein – doch ohne Lärmen.


245.TÔI MONG BẠN TẬN HƯỞNG

Tôi mong bạn tận hưởng
Hết lạc thú trần gian!
Bạn không sợ mũi tên
Ai thích thì cứ bắn.

Hạnh phúc thì chóng vánh
Cần phải nắm bắt thôi
Đừng xây nhà trên đồi
Mà xây trong thung lũng.

O laß nicht ohne Lebensgenuß

O laß nicht ohne Lebensgenuß
Dein Leben verfließen!
Und bist du sicher vor dem Schuß,
So laß sie nur schießen.

Fliegt dir das Glück vorbei einmal,
So fass’ es am Zipfel.
Auch rath’ ich dir, baue dein Hüttchen im Thal
Und nicht auf dem Gipfel.

THƠ TUYỂN 1812 – 1827 (Nachgelesene Gedichte 1812 – 1827)

246.KHI EM NGỒI BÊN ANH

Khi em ngồi bên anh
Con tim này hớn hở
Anh nghĩ mình giàu có
Mua được cả thế gian.

Nhưng khi em từ giã
Trong tim anh tối tăm
Giàu có đã không còn
Anh trở nên nghèo khó.

Wenn ich bei meiner Liebsten bin

Wenn ich bei meiner Liebsten bin
Dann geht das Herz mir auf
Dann dünk ich mich reich in meinem Sinn
Und frag: ob die Welt zu Kauf?

Doch wenn ich wieder scheiden tu
Aus ihrem Schwanenarm
Dann geht das Herz mir wieder zu
Und ich bin bettelarm.


247.TA ƯỚC AO NHỮNG BÀI HÁT CỦA TA

Ta ước ao những bài hát của ta
Sẽ trở thành những cánh hoa êm ái
Để ta đem gửi cho người bạn gái
Rồi nàng đưa môi hôn những bài ca.

Ta ước ao những bài hát của ta
Cũng biết cách hôn người ta đằm thắm
Ta gửi bài ca một cách thầm lặng
Cho người dấu yêu nhất của đời ta.

Ta ước ao những bài hát của ta
Sẽ thành những quả đậu non nho nhỏ
Để ta đem nấu món súp đậu đũa
Ngon như chưa ai từng nấu bao giờ.

Ich wollte, meine Lieder

Ich wollte, meine Lieder
Das wären Blümelein:
Ich schickte sie zu riechen
Der Herzallerliebsten mein.

Ich wollte, meine Lieder
Das wären Küsse fein:
Ich schickt sie heimlich alle
Nach Liebchens Wängelein.

Ich wollte, meine Lieder
Das wären Erbsen klein:
Ich kocht eine Erbsensuppe,
Die sollte köstlich sein.


248.VỚI NHỮNG CÔ GÁI ĐẦN

Với những cô gái đần, tôi thường nghĩ
Khó mà làm ăn với kẻ ngu đần
Nhưng khi tôi gặp những cô thông minh
Thì hiểu rằng còn khó hơn thế nữa.

Người thông minh thì lại quá khôn ngoan
Nhiều câu hỏi làm tôi mất kiên nhẫn
Và khi tôi hỏi họ điều quan trọng
Thì họ mỉm cười một cách tinh ranh.

Mit dummen Mädchen, hab ich gedacht

Mit dummen Mädchen, hab ich gedacht,
Nichts ist mit dummen anzufangen;
Doch als ich mich an die klugen gemacht,
Da ist es mir noch schlimmer ergangen.

Die klugen waren mir viel zu klug,
Ihr Fragen machte mich ungeduldig,
Und wenn ich selber das Wichtigste frug,
Da blieben sie lachend die Antwort schuldig.


249.DAN DÍU VỚI ĐÀN BÀ

Dan díu với đàn bà bạn hãy nên khiêm tốn
Hãy nhớ tiết kiệm lời và đừng vội nói tên
Bởi nếu nàng tốt – thì cho nàng giữ kín
Còn nếu không – thì cũng giữ cho mình.

Hast du vertrauten Umgang mit Damen

Hast du vertrauten Umgang mit Damen,
Schweig, Freundchen, stille und nenne nie Namen:
Um ihrentwillen, wenn sie fein sind,
Um deinetwillen, wenn sie gemein sind.


250.NHỮNG BÔNG HOA VƯƠN MÌNH

Những bông hoa vươn mình
Phía ánh mặt trời hướng đến
Và sông gửi từng con sóng
Về phía biển xanh.

Còn tôi, những bài ca của mình
Tôi đem gửi cho người tôi yêu mến
Cả nước mắt, cả những lời đau đớn
Bài ca ơi, hãy mang đến cho nàng.

Es schauen die Blumen alle

Es schauen die Blumen alle
Zur leuchtenden Sonne hinauf;
Es nehmen die Ströme alle
Zum leuchtenden Meere den Lauf.

Es flattern die Lieder alle
Zu meinem leuchtenden Lieb;
Nehmt mit meine Tränen und Seufzer,
Ihr Lieder, wehmütig und trüb!


251.ANH KHÔNG TIN THIÊN ĐÀNG

Anh không tin thiên đàng
Không tin lời linh mục
Chỉ tin đôi mắt em –
Là bầu trời hạnh phúc.

Anh không tin Chúa Trời
Không tin lời linh mục
Chỉ trái tim em thôi
Không thánh thần nào khác.

Anh không tin linh hồn
Bị đày nơi địa ngục
Chỉ tin đôi mắt em
Và con tim tai ác.

Ich glaub nicht an den Himmel

Ich glaub nicht an den Himmel,
Wovon das Pfäfflein spricht;
Ich glaub nur an dein Auge,
Das ist mein Himmelslicht.

Ich glaub nicht an den Herrgott,
Wovon das Pfäfflein spricht;
Ich glaub nur an dein Herze,
'nen andern Gott hab ich nicht.

Ich glaub nicht an den Bösen,
An Höll und Höllenschmerz;
Ich glaub nur an dein Auge,
Und an dein böses Herz.


252.NHỮNG BÔNG HOA NHỎ XINH

Những bông hoa nhỏ xinh
Cho ta được làm lành
Hãy chuyện trò vui vẻ
Cùng cười, cùng hát lên.

Này em, hoa chuông trắng
Và màu đỏ, hoa hồng
Cẩm chướng, nhiều vết đốm
Đừng quên tôi, màu xanh.

Hãy đến đây, các em
Tôi vui mừng chào đón
Nhưng tôi không tiếp nhận
Cỏ mộc tê trên đồng.

Wir wollen jetzt Frieden machen

Wir wollen jetzt Frieden machen,
Ihr lieben Blümelein.
Wir wollen schwatzen und lachen,
Und wollen uns wieder freun.

Du weißes Maienglöckchen,
Du Rose mit rotem Gesicht,
Du Nelke mit bunten Fleckchen,
Du blaues Vergißmeinnicht!

Kommt her, ihr Blumen, jede
Soll mir willkommen sein -
Nur mit der schlimmen Resede
Laß ich mich nicht mehr ein.


253.TÔI MUỐN ĐI VÀO RỪNG

Tôi muốn đi ngay vào chốn rừng xanh
Xem hoa nở và nghe sơn ca hót
Bởi vì sau này nằm dưới mộ phần
Đất sẽ lấp lên tai và lên mắt
Sẽ không còn nghe tiếng sơn ca hót
Không nhìn ra hoa đẹp nở tưng bừng.

Ich will mich im grünen Wald ergehn

Ich will mich im grünen Wald ergehn,
Wo Blumen sprießen und Vögel singen;
Denn wenn ich im Grabe einst liegen werde,
Ist Aug und Ohr bedeckt mit Erde,
Die Blumen kann ich nicht sprießen sehn,
Und Vögelgesänge hör ich nicht klingen.


254.ANH ĐÃ TỪNG Ở NƠI XA XÔI LẮM

Anh đã từng ở nơi xa xôi lắm*
Còn bây giờ cách em mấy bước chân
Một ý nghĩ lởn vởn trong đầu anh:
Chao ôi! Em đã thành cô hàng xóm.
____________
*Anh đã từng ở nơi xa xôi lắm – ý Heine nói đến quãng thời gian ba năm sống tại Hamburg ở nhà ông chú Solomon Heine và sau đó trở về lại Düsseldorf.

Ich wohnte früher weit von hier

Ich wohnte früher weit von hier,
Zwei Häuser trennen mich jetzt von Dir.
Es kam mir oft schon in den Sinn:
Ach! wärst Du meine Nachbarin.


255.GỬI SOLOMON HEINE

Cả nỗi buồn và đau đớn của tôi
Tôi đã đem dồn hết vào cuốn sách
Và khi từng trang sách này bạn đọc
Là bạn đang đi vào trái tim này.

An Salomon Heine

Meine Qual und meine Klagen
Hab ich in dies Buch gegossen,
Und wenn du es aufgeschlagen,
Hat sich dir mein Herz erschlossen.


256.NGÀY ĐÊM TÔI LÀM THƠ

Ngày đêm tôi làm thơ
Nhưng mà chẳng được gì
Chìm đắm trong hòa hợp
Thì cũng chỉ hư vô.

Tag und Nacht hab ich gedichtet

Tag und Nacht hab ich gedichtet,
Und hab doch nichts ausgerichtet;
Bin in Harmonien geschwommen,
Und bin doch zu nichts gekommen.


257.TA YÊU MÀY CÚN Ạ

Ta yêu mày, cún ạ
Chắc mi hiểu điều này
Ta cho mi ăn kẹo
Mi vội liếm vào tay.

Cả trong ruột, ngoài da
Mi đúng là con chó
Còn bè bạn của ta
Họ giả vờ nhiều quá.

Daß ich dich liebe, o Möpschen

Daß ich dich liebe, o Möpschen,
Das ist dir wohlbekannt.
Wenn ich mit Zucker dich füttre,
So leckst du mir die Hand.

Du willst auch nur ein Hund sein,
Und willst nicht scheinen mehr;
All meine übrigen Freunde
Verstellen sich zu sehr.


258.BẠN HAY THÙ, YÊU HAY GHÉT

Bạn hay thù, yêu thương hay ghét bỏ
Những thứ kia tôi nếm trải hết rồi
Nhưng nếu có gì còn bám vào tôi
Thì tôi vẫn là tôi, như vốn có.

Lieben und Hassen, Hassen und Lieben

Lieben und Hassen, Hassen und Lieben,
Ist alles über mich hingegangen;
Doch blieb von allem nichts an mir hangen,
Ich bin der allerselbe geblieben.


259.GỬI EDOM*

Hàng nghìn năm ta đã từng chịu đựng
Vì mối tình huynh đệ giữa chúng ta
Bạn từng chịu đựng hơi thở của tôi
Còn tôi chịu đựng cơn điên của bạn.

Trong bóng tối của một ngày xa vắng
Khi đó bạn không làm chủ được mình
Hoặc có thể là chỉ vì đức tin
Bạn làm tôi chảy máu và đau đớn.

Bây giờ tình bạn của ta bền vững
Và sẽ còn bền chặt theo tháng năm
Bởi vì tôi cũng bắt đầu nổi điên
Hóa ra là càng hợp hơn với bạn.
_____________
*Đây là bài thơ mà Heine gửi cho người bạn Moses Moser (1797 – 1838) của mình. Edom, tức Esau (Sáng Thế ký, 25: 30) là nhân vật trong Kinh Thánh dùng để chỉ tình yêu ghét giữa những người anh em.

An Edom!

Ein Jahrtausend schon und länger,
Dulden wir uns brüderlich,
Du, du duldest, daß ich atme,
Daß du rasest, dulde Ich.

Manchmal nur, in dunkeln Zeiten,
Ward dir wunderlich zu Mut,
Und die liebefrommen Tätzchen
Färbtest du mit meinem Blut!

Jetzt wird unsre Freundschaft fester,
Und noch täglich nimmt sie zu;
Denn ich selbst begann zu rasen,
Und ich werde fast wie Du.


260.NHỮNG BÀI HÁT CỦA TÔI
(Brich aus in lauten Klagen)

Những bài hát của tôi
Xin các người lên tiếng
Từ lâu giữa ngực này
Tôi giữ trong im lặng.

Hãy đến những đôi tai
Rồi vào tim trong ngực
Một nỗi đau tràn ngập
Đã hàng ngàn năm nay.

Cả già trẻ đều khóc
Cả những người chết rồi
Phụ nữ và hoa tươi
Sao trên trời cũng khóc.

Và tất cả nước mắt
Đều chảy về phương Nam
Chảy ra và đổ hết
Vào dòng sông Gioóc đan.

Brich aus in lauten Klagen

Brich aus in lauten Klagen,
Du düstres Martyrerlied,
Das ich so lang getragen
Im flammenstillen Gemüt!

Es dringt in alle Ohren,
Und durch die Ohren ins Herz;
Ich habe gewaltig beschworen
Den tausendjährigen Schmerz.

Es weinen die Großen und Kleinen,
Sogar die kalten Herrn,
Die Frauen und Blumen weinen,
Es weinen am Himmel die Stern!

Und alle die Tränen fließen
Nach Süden, im stillen Verein,
Sie fließen und ergießen
Sich all in den Jordan hinein.


261.NGƯỜI BỘI GIÁO

Nhiệt huyết thời tuổi trẻ
Sao vội vàng qua nhanh
Giờ trong máu lạnh lùng
Bạn hững hờ trước Chúa.

Bạn hướng lên thập tự
Mà trong lòng coi thường
Chỉ vừa mới mấy tuần
Mà đổi thay tất cả.

Cứ đọc đi sẽ rõ
Haller, Burke, Schlegel
Hôm qua là anh hùng
Nay thành kẻ chống trả.
_______________
*Karl Ludwig von Haller (1768 – 1854) – nhà chính trị, lý thuyết gia của phong trào Phục hưng Thụy Sĩ, năm 1820 chuyển sang đạo Cơ đốc. Edmund Burke (1729 – 1797) – nhà chính trị, nhà văn Anh, người phản đối Cách mạng Pháp. Friedrich Schlegel (1772 – 1829) – nhà văn, nhà thơ Đức, thời trẻ tham gia câu lạc bộ Gia-cô-banh (Jacobins) của Pháp sau đó lại quay về ca ngợi Đức, năm 1808 cải đạo.

Einem Abtrünnigen

O des heilgen Jugendmutes!
O, wie schnell bist du gebändigt!
Und du hast dich, kühlern Blutes,
Mit den lieben Herrn verständigt.

Und du bist zu Kreuz gekrochen,
Zu dem Kreuz, das du verachtest,
Das du noch vor wenig Wochen
In den Staub zu treten dachtest!

O, das tut das viele Lesen
Jener Schlegel, Haller, Burke -
Gestern noch ein Held gewesen,
Ist man heute schon ein Schurke.


262.TÔI KIẾM TÌNH YÊU
(Ich habe die süße Liebe gesucht)

Tôi kiếm tình yêu ngọt ngào dễ thương
Lại tìm ra sự hận thù cay đắng
Tôi thở dài và tôi nguyền rủa hắn
Thì máu chảy từ ngàn vạn vết thương.

Tôi đã thành thật cả ngày lẫn đêm
Để cùng với lũ súc sinh kết bạn
Khi đã nghiên cứu kỹ càng về chúng
Thì tôi viết ra “Ratcliff William”.
____________
*William Ratcliff – là một vở kịch của Heine.

Ich habe die süße Liebe gesucht

Ich habe die süße Liebe gesucht,
Und hab den bittern Haß gefunden,
Ich habe geseufzt, ich habe geflucht,
Ich habe geblutet aus tausend Wunden.

Auch hab ich mich ehrlich Tag und Nacht
Mit Lumpengesindel herumgetrieben,
Und als ich all diese Studien gemacht,
Da hab ich ruhig den Ratcliff geschrieben.


THƠ TUYỂN 1828 – 1844 (Nachgelesene Gedichte 1828 – 1844)

263.ÁNH TRĂNG NGỜI TRÊN BIỂN

Ánh trăng ngời trên biển
Tiếng sóng vỗ rì rào
Giữa lòng tôi trĩu nặng
Vì câu chuyện thuở nào.

Chuyện về những thành phố
Chìm đắm giữa đại dương
Dường như còn nghe rõ
Lời cầu nguyện vang lên.

Lời nguyện và tiếng chuông
Không giúp gì được cả
Ai đã một lần chôn
Không còn quay về nữa.

Im Mondenglanze ruht das Meer

Im Mondenglanze ruht das Meer,
Die Wogen murmeln leise;
Mir wird das Herz so bang und schwer,
Ich denk der alten Weise,

Der alten Weise, die uns singt
Von den verlornen Städten,
Wo aus dem Meeresgrunde klingt
Glockengeläut und Beten -

Das Läuten und das Beten, wißt,
Wird nicht den Städten frommen,
Denn was einmal begraben ist,
Das kann nicht wiederkommen.


264.NHỮNG ĐAM MÊ MỘT THUỞ

Những đam mê từng một thuở cháy lên
Chúng về đâu khi tim không còn nữa?
Chúng về nơi từng ra đi ở đó
Là địa ngục, nơi thiêu đốt rủa nguyền.

Die Liebesgluten, die so lodernd flammten

Die Liebesgluten, die so lodernd flammten,
Wo gehn sie hin, wenn unser Herz verglommen?
Sie gehn dahin, woher sie einst gekommen,
Zur Hölle, wo sie braten, die Verdammten.


265.MẮT LÀ NGÔI SAO ĐẸP

“Mắt là ngôi sao đẹp!”
Anh nhớ một bài ca
Nghe ở Toskana
Khi ngồi bên bến nước.

Cô gái hát bài ca
Khi cô ngồi vá lưới
Ánh nhìn cô hướng tới
Và anh đã hôn cô.

Giờ anh ngồi bên em
Nhớ bài ca ngày ấy
Nhớ biển và cô gái…
Hãy để anh hôn em!

»Augen, sterblich schöne Sterne!«

»Augen, sterblich schöne Sterne!«
Also mag das Liedchen klingen,
Das ich weiland in Toskana
An dem Meere hörte singen.

Eine kleine Dirne sang es,
Die am Meere Netze flickte;
Sah mich an, bis ich die Lippen
An ihr rotes Mündchen drückte.

An das Lied, an Meer und Netze
Hab ich wieder denken müssen,
Als ich dich zuerst erblickte -
Doch nun muß ich dich auch küssen.


266.NHỮNG BÀI HÁT CON CON

Những bài hát con con
Tôi tặng người yêu mến
Tôi chắp thêm đôi cánh
Để bay đến bên em.

Những bài hát con con
Tìm chồng cho em nhé
Chúng chạy đến với mẹ
Qua thung lũng, cánh đồng.

Moi người sẽ vui lòng
Nghe những bài hát đó
Khi những chàng trai hú
Sẽ cảm thấy lâng lâng.

Ai người hát trong đêm
Khi người này buồn bã
Thì sẽ yêu thích nó
Hơn bài hát của mình.

Ich mache die kleinen Lieder

Ich mache die kleinen Lieder
Der Herzallerliebsten mein,
Die heben ihr klingend Gefieder
Und fliegen zu dir hinein.

Es stammen die kleinen Jungen
Vom schnalzenden Herrn Gemahl,
Die kommen zu dir gesprungen
Über Wiese, Busch und Tal.

Die Leute so gerne weilen
Bei meiner Lieder Chor;
Doch bei der Jungen Heulen
Sie halten sich zu das Ohr.

Und der dies Lied gesungen,
Der liegt allein in der Nacht
Und hätte weit lieber die Jungen,
Ach, als die Lieder gemacht!


267.NGHE VANG NHƯ CÂU HÁT

Nghe vang như câu hát
Những gì tôi nghĩ suy
Thần tình yêu, tôi biết
Đấy là việc của ngươi.

Bậc thầy trong nhà hát
Nhà hát trái tim này
Những gì tôi nghĩ suy
Ngươi liền đem phổ nhạc.

Es erklingt wie Liedestöne

Es erklingt wie Liedestöne
Alles, was ich denk und fühl.
Ach! da hat der kleine schöne
Liebesgott die Hand im Spiel.

Der Maestro im Theater
Meines Herzens ist er jetzt;
Was ich fühl und denke, hat er
Gleich schon in Musik gesetzt.


268.HOA HỒNG VÀNG THÌ CÓ NGHĨA GÌ ĐÂY?

Hoa hồng vàng thì có nghĩa gì đây?
Đấy là vật lộn của yêu và ghét
Ghét, đã đành, vẫn làm khổ tình yêu
Nhưng yêu thì phải yêu qua nước mắt.

Was bedeuten gelbe Rosen?

Was bedeuten gelbe Rosen?
Liebe die mit Ärger kämpft,
Ärger der die Liebe dämpft,
Lieben und sich dabei erbosen.


269.BUỒN CƯỜI MÀ LẠI ĐAU

Buồn cười mà lại đau
Khi hai ta thừa nhận
Hai con tim yêu nhau
Nhưng đầu không tin tưởng.

Em yêu ơi có hiểu
Tình yêu trong tim này?
Nàng lắc đầu, thầm thĩ:
“Có trời biết yêu ai!”

Wir müssen zugleich uns betrüben

Wir müssen zugleich uns betrüben
Und lachen, wenn wir schaun,
Daß sich die Herzen lieben
Und sich die Köpfe nicht traun.

Fühlst du, mein süßes Liebchen,
Wie liebend mein Herz bewegt?
Sie schüttelt das Köpfchen und flüstert:
»Gott weiß, für wen es schlägt!«


270.ĐIỀU NÀY LÀM CHO CON NGƯỜI HẠNH PHÚC

Điều này làm cho con người hạnh phúc
Mà cũng làm cho người ấy ngu đần
Khi có đến ba người yêu xinh đẹp
Trong khi người này chỉ có hai chân.

Tôi chạy đến một người buổi sớm mai
Và với người thứ hai khi đêm xuống
Còn người thứ ba với tôi tự đến
Không hiểu sao lại chỉ đến ban ngày.

Tôi phải chia tay với cả ba người
Bởi vì tôi chỉ có hai chân nhỏ
Tôi chỉ muốn đi về miền thôn dã
Tận hưởng thiên nhiên xinh đẹp mà thôi.

Das macht den Menschen glücklich

Das macht den Menschen glücklich,
Das macht den Menschen matt,
Wenn er drei sehr schöne Geliebte
Und nur zwei Beine hat.

Der einen lauf ich des Morgens,
Der andern des Abends nach;
Die dritte kommt zu mir des Mittags
Wohl unter mein eignes Dach.

Lebt wohl, ihr drei Geliebten,
Ich hab zwei Beine nur,
Ich will in ländlicher Stille
Genießen die schöne Natur.


271.CHẠY TRỐN

Dưới ánh trăng sáng tỏ
Nghe tiếng sóng rì rào
Có hai người yêu nhau
Trên một con thuyền nhỏ.

–  “Sao mặt em tê tái
Hở người anh yêu thương!”
– “Anh yêu, anh biết không
Bố em đuổi theo đấy”.

– “Ta sẽ chèo nhanh vậy
Hở người anh yêu thương!”
– “Anh nghe tiếng hét không?
Bố em đang chửi đấy”.

– ‘Hãy giữ chặt mái đầu
Người anh yêu thương nhé!”
– “Anh yêu, em nghe rõ
Giọt nước chảy vào tai”.

– “Đôi chân anh tê liệt
Ôi, người anh yêu thương!”
– “Anh yêu, em muốn được
Chết trong vòng tay anh”.

Die Flucht

Die Meeresfluten blitzen,
Bestrahlt vom Mondenschein.
Im schwanken Kahne sitzen
Zwei Buhlen, die schiffen allein.

»Du wirst ja blaß und blasser,
Du Herzallerliebste mein!« -
»Geliebter! dort ruderts im Wasser,
Mein Vater holt uns ein.« -

»Wir wollen zu schwimmen versuchen,
Du Herzallerliebste mein !« -
»Geliebter! ich hör ihn schon fluchen,
Ich höre ihn toben und schrein.« -

»Halt nur den Kopf in die Höhe,
Du Herzallerliebste mein!« -
»Geliebter! Das Wasser, o wehe,
Dringt mir in die Ohren hinein.« -

»Es werden steif mir die Füße,
O Herzallerliebste mein!« -
»Geliebter, der Tod muß süße
In deinen Armen sein.«